Loading...

Roi Đánh Hồn: Phần 1 – Phần 14
#7. Chương 7: Phần 2: Xung Sát

Roi Đánh Hồn: Phần 1 – Phần 14

#7. Chương 7: Phần 2: Xung Sát


Báo lỗi

Lần đầu tiên theo sư phụ lái xe tải đường dài, nửa đêm tôi bỗng nghe thấy có người gọi tên mình.  
 
Tiếng gọi khiến tim tôi đập loạn nhịp. Tôi bám vào cửa sổ xe, thò đầu ra ngoài nhìn, nhưng ngay lập tức bị sư phụ kéo giật trở lại!  
 
Ông nhanh chóng hạ cửa kính, phun mạnh đầu thuốc lá đang hút ra ngoài, rồi chỉ tay vào con đường tối đen trước mặt mà chửi rủa không ngớt.  
 
Lúc đó tôi còn nhỏ, chẳng biết sư phụ đang chửi ai, chỉ có thể co ro như con tôm trong ghế phụ, không dám lên tiếng.  
 
Sau này, tôi một mình lái xe tải suốt hơn mười năm, chưa bao giờ gặp lại tình huống có người gọi tên mình giữa đêm khuya nữa.  
 
Cho đến ba ngày trước, tôi đột nhiên nhận được tin sư phụ qua đời.  
 
(*) Xung sát: Một nghi thức liên quan đến việc hóa giải điềm xấu, tà khí hoặc các yếu tố không tốt lành trên đường đi.
 
1  
 
Sư phụ tôi ch3t trên đường xung sát.  
 
“Xung sát” là một quy tắc bất thành văn trong giới lái xe tải.  
 
Mỗi khi có một con đường mới mở, nhất định phải có một tài xế kỳ cựu, bát tự đủ cứng và gan lớn, đi qua trước để “phá sát khí”, sau đó các xe khác mới có thể chạy theo.  
 
Người nhận nhiệm vụ xung sát sẽ nhận được rất nhiều tiền lì xì, đôi khi còn có hoa hồng từ công ty vận tải, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với nguy hiểm khôn lường.  
 
Bởi vì không ai biết trên con đường đó có gì chờ đón họ.  
 
Khi còn trẻ, sư phụ tôi thường xuyên nhận xung sát. Chính ông đã dạy tôi cách làm thế nào để vượt qua những con đường đầy rủi ro ấy.  
 
Nhưng năm nay ông đã sáu mươi mốt tuổi, thậm chí đã giải nghệ, tại sao lại đi xung sát một lần nữa?  
 
Nghĩ mãi không ra, tôi vội vã chạy đến linh đường của sư phụ, nhưng khi vừa bước vào, cảnh tượng trước mắt khiến tôi nổi giận!  
 
*** 
 
“Mày nghĩ ông già đó ch3t rồi là có thể quỵt nợ hả?”  
 
“Con trai ông ta đâu? Đừng nói là ch3t theo luôn rồi nhé?”  
 
Vài gã đàn ông trông bặm trợn đứng quanh sư mẫu tôi, giọng điệu hống hách.  
 
Bà ôm chặt di ảnh của sư phụ vào lòng, thân hình gầy gò nhỏ bé trông càng yếu ớt.  
 
“Mẹ kiếp, bọn mày định giở trò à?”  
 
Gã cầm đầu vừa nói vừa đẩy mạnh bà một cái.  
 
“Hỏi gì thì trả lời đi, con mụ già!”  
 
Tôi lao đến như một cơn gió, túm chặt cổ áo hắn, nhấc bổng lên khỏi mặt đất!  
 
“Cái… cái quái gì vậy?”  
 
Tên đó chưa kịp nói xong đã bị tôi xách lên ngang mặt.  
 
Tôi cao to lực lưỡng, mặt mày dữ tợn, từ nhỏ đã bị người ta so sánh với Trương Phi hay Lý Quỳ.  
 
Những kẻ này chỉ giỏi ức hiếp người già yếu, nhưng khi thấy tôi thì lập tức hóa thành chó con, chỉ biết run rẩy không dám hó hé.  
 
“Mày… mày là ai? Mày theo ai trong giới này?”  
 
Gã cầm đầu cố giãy giụa, nhưng chân không chạm đất, giọng nói cũng lắp bắp.  
 
Mấy tên đàn em đứng sững, chẳng dám bước lên giúp.  
 
“Trường Đống…”  
 
Sư mẫu ngẩng đầu nhìn thấy tôi, đôi mắt đục ngầu rưng rưng.  
 
“Tao là Long Trường Đống.”  
 
Tôi nhìn chằm chằm vào tên đang bị mình nắm cổ áo, lạnh giọng nói: “Sư phụ tao nợ bọn mày bao nhiêu, cứ tìm tao. Nếu còn dám động đến sư mẫu, tao sẽ lột da bọn mày!”  
 
Tôi quẳng bọn chúng ra ngoài linh đường.  
 
Chúng chỉ dám đứng xa, giơ tay múa chân vài cái, nhưng khi tôi bước lên một bước thì lập tức quay đầu chạy mất dạng.  
 
Tôi đỡ lấy sư mẫu đang loạng choạng, giúp bà đặt lại di ảnh lên bàn thờ.  
 
“Trường Đống, thắp cho sư phụ con nén nhang đi! Ông ấy vẫn luôn nhớ con…”  
 
Tôi quỳ xuống, nhìn di ảnh của sư phụ.  
 
Gương mặt ông vẫn y như trong ký ức của tôi, một người trượng nghĩa, chính trực, cả đời sống ngay thẳng.  
 
Tôi gặp ông lần đầu tiên cũng là trên một con đường xa lạ.  
 
Khi đó tôi mới vào nghề, chẳng biết gì cả.  
 
Lần chạy xe đầu tiên đã bị lừa vào một con đường chưa ai từng xung sát.  
 
Nửa đêm, tôi đang lái xe băng băng thì nghe thấy tiếng hát tuồng và tiếng rao hàng vang lên bên đường.  
 
Tưởng rằng có một làng chài nào đó đang mở hội, tôi định rẽ xe đi xem thử.  
 
Nhưng vừa mới đánh lái, một chiếc xe tải từ phía sau đột ngột vượt lên, ép tôi phải dừng lại!  
 
“Tấp vào lề ngay! Xuống xe!” Tài xế chiếc xe đó hét lên với tôi qua cửa kính.  
 
Tôi không quen biết ông ta, thấy ông ta giận dữ như vậy liền nghĩ chắc ông ta là kẻ xấu.  
 
Ban đầu tôi không định quan tâm, nhưng ông ta cứ bấm còi liên tục, ép xe tôi suốt quãng đường.  
 
Bực mình, tôi tấp vào lề, bước xuống. Tôi cao gần một mét chín, chẳng sợ ai cả.  
 
Nhưng tôi không ngờ, vừa bước ra, tôi đã bị ông ta chụp lấy cánh tay, kéo mạnh về phía xe ông ta!  
 
“Thằng nhóc ở đâu ra vậy? Muốn ch3t hả? Đây là đường mày có thể đi sao?”  
 
“Nếu ông đi được, tại sao tôi không đi được?”  
 
Tôi cãi lại, muốn tranh luận với ông ta.  
 
“Đường lớn rộng rãi, ai chẳng có quyền đi!”  
 
“Tao đi được, nhưng mày thì không.”  
 
Ông ta quay đầu, nhếch mép cười lạnh: “Chỗ này hoang vu thế này, mày muốn đi xem hội ở đâu?”  
 
Lời ông ta vừa dứt, một cơn gió lạnh quét qua.  
 
Tôi bỗng rùng mình!  
 
Những tiếng hát tuồng và tiếng rao hàng vẫn văng vẳng bên tai bỗng chốc hóa thành tiếng gió hú trên núi hoang.  
 
Giống như tất cả những âm thanh tôi vừa nghe được… chỉ là ảo giác.
 
Hôm đó, sư phụ tôi chính là đi đến con đường đó để xung sát.  
 
Lúc thấy tôi trên đường, ban đầu ông còn tưởng tôi là người có kinh nghiệm đi xung sát cùng.  
 
Mãi đến khi thấy tôi đổi làn một cách cứng ngắc, suýt nữa thì lao thẳng vào rào chắn ven đường, ông mới hiểu ra tôi chỉ là một tên ngốc chẳng biết gì.
  
Cũng may tôi còn chịu nghe lời, ngoan ngoãn lên xe của ông.  
 
Trên đường đi, tôi mới lần đầu tiên biết đến cái gọi là “xung sát”.  
 
Sau này tôi cũng từng chạy qua con đường đó, núi non trùng điệp, xung quanh không có lấy một ngôi làng, thậm chí cả nghĩa trang cũng chẳng có.  
 
Đến tận bây giờ, tôi vẫn không biết giọng hát hí kịch đêm đó tôi nghe thấy, rốt cuộc là gì.  
 
Sau chuyện đó, sư phụ thấy tôi hợp mắt, cũng dễ dạy, bèn nhận tôi làm đồ đệ.  
 
Tôi ở trên xe của ông suốt hai năm.  
 
Sư phụ tôi tên là Khổng Giáp, năm nhận tôi, ông đã chạy xe tải gần hai mươi năm, rất có tiếng trong nghề.  
 
Ông không hề giấu giếm tôi điều gì, truyền dạy hết tất cả những gì mình biết.  
 
Nhờ vào kinh nghiệm sư phụ truyền lại và mệnh cách cứng rắn, tôi cũng bước chân vào con đường xung sát khi chạy xe tải.  
 
Năm ba mươi tuổi, tôi mở công ty vận tải của riêng mình, cuộc sống vô cùng viên mãn.
  
Nhưng số phận lại bất ngờ rẽ ngoặt.  
 
Cha mẹ tôi lần lượt qua đời, vợ tôi bệnh nặng không qua khỏi.  
 
Công ty bị đối tác rút vốn lừa gạt, để lại cho tôi khoản nợ khổng lồ.
 
Giai đoạn khó khăn nhất đó, tôi vốn không muốn để sư phụ biết.
  
Ông đã nghỉ hưu rồi, tôi không muốn khiến ông phải bận lòng.  
Nhưng cuối cùng, ông vẫn nghe được tin.  
 
Ông cõng mấy chục cân thịt bò đến nhà tôi, trước khi đi còn lén nhét vào tay tôi một tấm thẻ ngân hàng có hai trăm ngàn tệ.  
 
Ông nói với tôi: “Trường Đống, đời người làm gì có chuyện mãi mãi thuận buồm xuôi gió? Chúng ta cứ sống thật thà, tìm cách trả hết nợ rồi làm lại từ đầu.”  
 
***
  
Tôi thắp hương trước di ảnh của sư phụ, dập đầu ba cái thật mạnh.  
 
Sư mẫu đỡ tôi đứng lên: “Sư mẫu, tại sao sư phụ lại đột nhiên đi xung sát chứ? Những người lúc nãy là thế nào? Sư phụ mắc nợ có phải vì giúp con không?”
  
Tôi nôn nóng hỏi, sợ rằng chính mình đã liên lụy đến sư phụ.  
 
“Không phải.” Sư mẫu khẽ lắc đầu.  
 
“Cả đời ông ấy chưa từng vay tiền ai, số tiền cho con cũng là tiền tích cóp của nhà mình.”  
 
“Vậy thì…”  
 
“Tất cả là tại anh trai em!” Một giọng nói tức giận vang lên ở cửa.
  
Là Khổng Nghi, con gái của sư phụ tôi.  
 
Cô ấy sinh muộn, năm nay mới vừa tốt nghiệp đại học, đôi mắt đỏ hoe, hai tay xách theo mấy túi giấy tiền vàng mã.
  
Tôi vội bước đến nhận lấy: “Là Lượng Tử thiếu nợ bên ngoài sao?”  
 
Khổng Lượng là con trai cả của sư phụ, chỉ nhỏ hơn tôi ba tuổi, nhưng không có công việc ổn định cũng chẳng lập gia đình, khiến người nhà không ít lần phải đau đầu.  
 
“Sao anh không thấy nó? Nó đâu rồi?”  
 
Lúc này tôi mới nhận ra, cha qua đời mà hắn, đứa con trai này, lại không có mặt để túc trực linh cữu. 
 
“Ai mà biết anh ta chạy đi đâu rồi! Chắc lại ch3t dí trong sòng mạt chược nào đấy!”  
 
Khổng Nghi giận dữ lau nước mắt, tôi vội kéo cô ấy ngồi xuống.
  
“Đừng khóc nữa, tối nay anh sẽ canh ở đây, em và sư mẫu về nghỉ ngơi đi.”  
 
Khổng Nghi liên tục lắc đầu: “Em không về đâu, mai là ngày cuối rồi, em muốn ở bên ba thêm chút nữa.”  
  
Linh cữu sư phụ để ba ngày, ngày mai là hỏa táng.  
 
Tôi và Khổng Nghi thức trọn đêm cuối bên linh đường.  
 
Sư phụ mất vì tai nạn giao thông, thi thể không được nguyên vẹn, quan tài cũng không dùng loại trong suốt, tôi không thể nhìn ông lần cuối.  
 
Chỉ là đêm ấy, gần rạng sáng, tôi mơ một giấc mơ kỳ lạ.  
 
Trong mơ, tôi đang lái xe tải trên đường, bên ngoài tối đen như mực.  
 
Bỗng nhiên, tôi nghe thấy có người gọi tên mình.  
 
Chuyện như vậy, tôi từng gặp một lần rồi.  
 
Khi đó sư phụ tôi đã dặn, ban đêm chạy xe, nếu bên ngoài có ai gọi thẳng tên mình, tuyệt đối không được đáp lại, tốt nhất cũng đừng quay đầu nhìn.  
 
Nhưng lần này, trong mơ, tôi lại càng lúc càng không yên lòng. Bởi vì giọng nói đang gọi tôi bên ngoài cửa sổ, tôi quá quen thuộc rồi, đó chính là sư phụ.  
 
Tôi đưa tay vươn về phía cửa sổ, nghĩ rằng nếu có thể nhìn ông một lần cũng tốt.  
 
Nhưng ngay lúc đó, phía sau tôi bỗng có người vỗ mạnh lên lưng!  
 
Tôi choàng tỉnh dậy, bên ngoài trời đã hửng sáng.  
 
Tôi vẫn đang ngồi trên bậc thềm trước linh cữu sư phụ. Khổng Nghi co ro trên ghế, dường như cũng đang mơ.  
 
Tôi quay đầu nhìn quan tài của sư phụ, đưa tay lau mặt, ẩm ướt một cách khó hiểu.
 
Chín giờ sáng, những người bạn cũ của sư phụ lần lượt đến.  
 
Họ đều là những tài xế xe tải lão luyện, đã lăn lộn trên đường cả nửa đời người.  
 
Khi nghe tin sư phụ tôi qua đời, ai cũng bàng hoàng và tiếc nuối.  
 
Tang lễ diễn ra được một nửa thì cuối cùng Khổng Lượng cũng xuất hiện.  
 
Hắn thản nhiên đứng lẫn trong đám đông, khiến họ hàng trong nhà có chút muốn dạy dỗ. Nhưng vì hôm nay là ngày tang, ai cũng nén lại.  
 
Sau khi hỏa táng xong, lão Trần – người thân thiết nhất với sư phụ tôi – kéo tôi sang một bên: “Trường Đống à! Nghe nói sư phụ cậu không mất trên đường xung sát, đúng không?”  
 
Tôi gật đầu: “Sư phụ là vì giúp Khổng Lượng trả nợ.”  
 
“Chà… thế thì rắc rối rồi.” Lão Trần thở dài.  
 
“Làm nghề này, nếu mất trên đường, đến khi đốt ba tuần, phải lái xe lên đường mà gọi hồn, đưa hồn về mới có thể chôn cất được. Nhưng sư phụ cậu chưa xung xát xong mà mất, ai dám đi gọi hồn đây?”  
 
“Tôi đi!”  
 
 
Tôi không chút do dự: “Tôi nhất định đưa sư phụ trở về!”  
 
“Một mình cậu không đủ, Khổng Lượng cũng phải đi. Nó là trưởng tử, tiếng gọi hồn của nó mới linh nghiệm.”  
 
Lão Lý bên cạnh cũng lên tiếng.  
 
“Này, thằng Lượng đâu?”  
 
Mọi người vừa nghe xong liền muốn tìm Khổng Lượng để dặn dò, nhưng đảo mắt một vòng, hắn lại biến mất.  
 
Lúc này, từ ngoài cửa vang lên tiếng hét của Khổng Nghi: “Anh! Anh đang làm cái gì vậy? Anh còn là người không? Số tiền này anh không được lấy!”  
 
Nghe thế, tôi vội chạy ra ngoài. Vừa ra đã thấy Khổng Lượng đang nhét một xấp tiền vào túi.  
 
Số tiền đó là tấm lòng của mọi người đến viếng tang lễ!  
 
Khổng Nghi vốn đang ghi sổ điếu, không ngờ Khổng Lượng lượn đến, thì ra là để hốt tiền phúng điếu!  
 
“Khổng Lượng! Đặt tiền xuống!” Tôi quát lớn.  
 
Sư phụ vì trả nợ thay hắn mà bán cả tiệm sửa xe.  
 
Hai trăm ngàn tôi mới đưa sư phụ trước đó cũng chẳng còn lại đồng nào.  
 
Giờ đây, sư mẫu trong nhà, đến tiền chợ e rằng cũng không có.  
 
“Không đến lượt anh lo! Anh nghĩ anh là ai hả?”  
 
Khổng Lượng hất mặt: “Anh còn cầm của ba tôi mấy trăm ngàn đó! Đừng tưởng tôi không biết!”  
 
“Tiểu Lượng, con đang làm gì vậy?”  
 
Lão Trần kiên nhẫn khuyên nhủ: “Ba con còn chưa yên nghỉ, đừng làm loạn nữa!”  
 
“Ai làm loạn chứ?” 
 
Giọng Khổng Lượng ngày càng to: “Đâu phải tôi kêu ông ấy đi chạy xe! Sao mọi người lại trách tôi?”  
 
“Anh có còn là người không?” Khổng Nghi rưng rưng nước mắt, cầm sổ đánh hắn một cái. Hắn lập tức hất tay một cái, đẩy cô ngã xuống đất.  
 
“Cút! Mày tưởng tao không dám đánh mày hả?”  
 
Tôi sải bước đến, nắm chặt cánh tay hắn, hắn lập tức tru tréo: “Long Trường Đống! Anh muốn gi3t người sao? Ba tôi còn chưa nhắm mắt, anh dám đánh tôi, cứ chờ đấy…”  
 
“Trường Đống!” Sư mẫu nghe thấy ồn ào, được người đỡ ra khỏi linh đường. Bà mặt mày tái nhợt, giọng yếu ớt.  
 
“Đừng chấp nó! Cứ để nó đi, đừng để nó phá hoại sự yên bình của sư phụ con!”  
 
“Mẹ!” Khổng Nghi lo lắng đến phát khóc.  
 
Sư mẫu chỉ chăm chăm nhìn Khổng Lượng, nói: “Nếu con còn chút lương tâm, đến ba tuần của ba con, nhớ về cùng Trường Đống đi gọi hồn. Còn nếu không, sau này cũng đừng quay về nữa. Mẹ xem như không có đứa con trai này! Sau này nếu dám về đây quấy phá, mẹ sẽ gọi người đánh gãy chân con! Con là mẹ sinh ra, không tin thì cứ thử xem!”  
 
Tôi buông Khổng Lượng ra, hắn vẫn không phục, lẩm bẩm: “Chẳng phải chỉ là chạy xe một chuyến thôi sao? Xung sát gọi hồn cái gì, hù ai chứ? Tôi đi là được chứ gì? Có gì mà khó? Tôi không nợ các người!”  
 
“Số tiền này, sau này tôi nhất định sẽ trả, đừng có mà lên mặt dạy đời tôi!”  
 
Khổng Lượng đi thẳng một mạch. Sư mẫu tức đến mức suýt ngất xỉu.  
 
Khổng Nghi nghẹn ngào nói với tôi: “Anh! Nếu đến lúc đó tên khốn ấy không về, em sẽ đi với anh! Ba em thương em nhất, em chắc chắn có thể gọi ba về!”  
 
Tôi xoa đầu cô: “Em yên tâm, anh sẽ tìm ra Khổng Lượng. Tới lúc đó, có trói anh cũng sẽ lôi nó lên xe!”  
 
Lão Trần bên cạnh thở dài một hơi, vỗ vai tôi: “Trường Đống à, lần này cậu phải cẩn thận. Sư phụ cậu còn chưa đi qua được con đường đó. Bây giờ lại thêm một mạng người… chỉ e là còn hung hiểm hơn!”  
 
Tôi gật đầu.  
 
Năm đó, sư phụ từng cứu tôi từ con đường ấy. Lần này, đến lượt tôi đưa sư phụ về nhà.
 
***
 
Còn hơn nửa tháng nữa mới đến ngày làm lễ ba bảy cho sư phụ, tôi đưa hết số tiền mình có cho Khổng Nghi.  
Cô ấy dù không muốn nhận, nhưng sức khỏe của sư mẫu cần được chăm sóc tốt, mà cô ấy lại vừa mới tốt nghiệp, tiền lương chẳng đủ chi tiêu.  
 
“Anh cả, em nhất định sẽ trả lại cho anh. Mẹ em có nói, ba để lại cho em một căn nhà, anh trai em còn chưa biết. Đợi lúc nào đó em sẽ bán nó đi.”  
 
“Ngốc quá, đó là thứ sư phụ để lại cho em phòng thân, sao có thể tùy tiện bán được? Em cứ yên tâm, anh cả có cách kiếm tiền.”  
 
Tôi không lừa Khổng Nghi, dù bản thân cũng đang gánh nợ, nhưng đã trả được phần lớn rồi.  
Chỉ là cách kiếm tiền của tôi, ít nhiều có chút không chính đáng.  
 
Năm mười hai tuổi, tôi cứu một lão đạo sĩ bị ngã xuống mương. Ông lão đó thần trí không bình thường, cứ lẩm bẩm nói rằng tôi có “Tướng Tu La, lòng Bồ Tát, đời này định sẵn phải ăn cơm âm dương.” 
  
Sau đó, ông ta đưa cho tôi một cây roi đánh hồn bằng gỗ đào, có mười một đốt.  
 
Khi đó tôi chẳng mấy để tâm, cứ thế cất cây roi trong tủ. Mãi đến khi cuộc đời tôi rơi xuống vực thẳm, vì muốn trả nợ, tôi bắt đầu nhận công việc tẩy hung trạch, cắt đứt nghiệt duyên.  
 
Lúc này, tôi mới mời cây roi đánh hồn ra, mang theo bên mình.  
 
Nghĩ lại thì, từ lúc khởi nghiệp với việc chạy xe xung sát, có lẽ tôi chưa bao giờ rời xa cái gọi là “ăn cơm âm dương” mà ông lão kia nhắc đến.  
 
Tang lễ kết thúc, tôi thu xếp ổn thỏa cho sư mẫu và Khổng Nghi, lập tức không nghỉ ngơi mà đến gặp khách hàng của mình.  
 
Khách hàng lần này là do một người bạn giới thiệu, là một người đàn ông cùng tuổi tôi.  
 
Người đó tên là Vệ Chương, làm kinh doanh rượu, dáng người hơi béo, bụng bia khá rõ ràng.  
 
Nhưng dù gì cũng đã ngoài ba mươi, đáng ra cũng phải có chút thần sắc.  
 
Thế nhưng, người tôi thấy lại giống như một bệnh nhân nằm liệt giường lâu ngày, ngay cả lưng cũng không thẳng nổi.  
 
Anh ta nhìn tôi, cũng không tỏ ra quá kích động, có vẻ như đã chẳng còn hy vọng gì nữa: “Tôi còn tưởng anh là một vị cao nhân ẩn thế chứ!”  
 
“Tôi chỉ là một người bình thường thôi.” Tôi ngồi xuống trước mặt anh ta.  
 
Theo lời kể của Vệ Chương, trước đây anh ta vốn khỏe mạnh, dù có chút vấn đề nhỏ thì cũng chỉ cần giảm cân, kiểm soát trọng lượng là ổn.  
 
Thế nhưng từ đầu năm nay, anh ta đột nhiên bị bệnh. Ban đầu là chóng mặt, rồi khó thở, dần dần cả người bắt đầu đau đớn.  
 
“Giống như có một ngọn núi đè lên người tôi vậy.”  
 
Khi nói câu này, cả người Vệ Chương đang run rẩy.  
 
“Tôi đã đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác, khám tất cả các khoa, thậm chí cả khoa tâm thần cũng đã thử.”  
 
Anh ta cười thảm: “Nhưng chẳng phát hiện ra bệnh gì cả. Đến bây giờ, tôi chỉ có thể sống dựa vào thuốc giảm đau mà thôi.”
 
Mắt Vệ Chương đỏ hoe, trong lời nói đầy bức xúc và tức giận.  
 
“Tôi không hiểu tại sao mình phải chịu đựng những chuyện này. Tôi đã cố gắng cả nửa đời người, vất vả lắm mới kiếm được chút tiền. Tôi đã làm rất nhiều việc tốt. Tôi hiến máu nhiều lần, quyên tiền cho trẻ mồ côi, làm tình nguyện viên trong viện dưỡng lão, tạo việc làm cho người khuyết tật.” 
 
“Tôi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, chỉ mong khi có khả năng thì giúp được ai hay bấy nhiêu.” 
 
Vệ Chương lau nước mắt, như thể đang chế giễu chính sự yếu đuối của mình.  
 
“Nhưng tôi thực sự không hiểu. Người tốt chẳng lẽ không nên được báo đáp sao?”  
 
Tôi không biết phải an ủi anh ta thế nào, chỉ đành để anh dần bình tĩnh lại.  
 
“Sau này, gia đình tôi cũng đã tìm đến rất nhiều thầy phong thủy. Có hai người khá đáng tin nói rằng vận mệnh của tôi đã bị ai đó động tay động chân, bảo tôi tự tìm kiếm manh mối.” 
 
Nhìn vẻ mặt của Vệ Chương, tôi biết anh ta cũng giống như tôi trước đây, không mấy tin vào những chuyện này.  
 
“Nhưng tôi biết tìm manh mối ở đâu chứ? Chỉ có một điều đặc biệt là tôi luôn mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ.”
 
“Trong mơ, tôi thấy một tảng đá lớn nằm trên đỉnh núi, bên dưới toàn là đá vụn và đất đỏ như gạch nung. Tảng đá đó phần trên nhỏ, phần dưới to, hai người ôm mới xuể. Trên đỉnh đá còn có một sợi dây đỏ quấn quanh.” 
 
“Mỗi lần mơ thấy nó, tôi đều tỉnh dậy trong trạng thái khó thở, rất lâu sau mới hồi phục.” 
 
“Đá, đất đỏ…” 
 
Tôi suy nghĩ một lát. Thành phố này không có nhiều ngọn núi, mà hầu hết đều phủ đầy cây cối. Nếu nói đến một nơi có đá vụn và đất đỏ, có lẽ chỉ có Đông Lăng Phong.  
 
“Tôi biết trên Đông Lăng Phong có đá.” 
 
Vệ Chương yếu ớt đáp: “Tôi đã đến đó rất nhiều lần, đi khắp đỉnh núi nhưng không tìm thấy gì cả. Thầy phong thủy tôi nhờ nói rằng nếu tìm được người có bát tự cứng, có lẽ có thể phá được mê chướng, nhìn thấy tảng đá kia.”  
 
Ngày hôm sau, tôi cùng Vệ Chương lên Đông Lăng Phong.  
 
Trên đường đi, anh ta hầu như không nói gì, trông mệt mỏi rã rời. Chỉ khi nhận được điện thoại từ người nhà, anh mới cố gắng tỏ ra bình thường, giả vờ như không có chuyện gì xảy ra.  
 
Tôi cũng tranh thủ báo bình an về nhà. Tôi có một trai một gái, bây giờ đều do mẹ vợ chăm sóc.  
 
Con gái tôi lo cho tôi nhất, ngày nào cũng phải gọi điện mới yên tâm.  
 
Con trai thì còn nhỏ, suốt ngày gửi cho tôi mấy đoạn phim hoạt hình cười cợt trên WeChat.  
 
Đông Lăng Phong không quá cao. Tôi mang theo một đống dụng cụ. Vệ Chương không mang theo gì cả, leo được nửa chừng thì suýt ngất.  
 
Tuy nhà tôi không ở thành phố này, nhưng cũng không xa lắm.  
 
Những năm theo sư phụ chạy xe, tôi đã sống ở đây một thời gian, nên cũng khá quen thuộc khu vực quanh Đông Lăng Phong.  
 
Tôi nhớ dưới chân núi có rất nhiều tiệm bán quan tài, đồ tang lễ, hàng mã. Cả thành phố đều nhập hàng từ đây.  
 
Điều đó khiến tôi từng nghĩ rằng cây trên Đông Lăng Phong rất thích hợp để làm quan tài.  
 
Nhưng bây giờ nhìn lại, trên núi toàn là đá, cây cối thì thưa thớt, ngay cả những cây to bằng miệng bát cũng hiếm thấy. Đừng nói đến quan tài, ngay cả làm hộp đựng tro cốt cũng khó.  
 
Vậy tại sao dưới chân núi này lại tập trung nhiều người kinh doanh đồ tang lễ đến vậy? Tôi cảm thấy có gì đó kỳ lạ.  
 
Đến gần trưa, chúng tôi sắp lên đến đỉnh núi. Bất chợt, sương mù dần bao phủ, những hàng cây lưa thưa xung quanh cũng dần mờ nhạt.  
 
Vệ Chương gần như không leo nổi nữa, tôi đành phải đỡ anh ta.  
 
“Rõ ràng trời quang mây tạnh, sao lại có sương mù thế này?” Vệ Chương thở hổn hển hỏi.  
 
“Cố thêm chút nữa, sắp tới rồi.”
 
Tôi động viên anh ta. Đúng lúc này, tôi chợt nhìn thấy một bóng đen thấp thoáng ven đường. Dáng vẻ như một người đang ngồi xổm, tìm kiếm thứ gì đó.  
 
Tôi bảo Vệ Chương nghỉ ngơi tại chỗ rồi nhanh chóng tiến lại gần. Nhưng khi đến nơi, tôi mới phát hiện đó không phải người, mà là một tảng đá.  
 
Tôi hoa mắt sao?  
 
Nhìn xa hơn, trong làn sương mỏng, tôi thấy vô số tảng đá lớn nhỏ rải rác khắp sườn núi.  
 
Từ xa trông lại, chúng giống hệt như rất nhiều người đang ngồi xổm, cúi đầu đào bới thứ gì đó.  
 
Tôi lập tức lắc đầu xua đi suy nghĩ kỳ quái, quay người tìm Vệ Chương.  
 
Nhưng khi tôi vừa quay lại, tôi giật mình sững sờ, Vệ Chương biến mất!  
 
Tôi sợ anh ta gặp chuyện không may, vội vàng chạy ngược về. May mà khi quay lại chỗ cũ, tôi phát hiện ra anh ta vẫn ở đó, chỉ là đang ngồi thụp sau một thân cây.  
 
Tôi thở phào nhẹ nhõm, nghĩ rằng anh ta có lẽ đã quá mệt.  
 
“Anh ổn chứ? Còn đi tiếp được không?” 
 
Vệ Chương không trả lời. Anh ta quay lưng về phía tôi, má phồng lên, như đang nhai gì đó.  
 
Miệng anh ta thì thào những âm thanh mơ hồ, còn tay thì cào bới liên tục trên mặt đất…
 
“Anh đang làm gì vậy, Vệ Chương!”  
 
Tình trạng của Vệ Chương khiến tôi toát mồ hôi lạnh.  
 
Tôi nắm lấy vai anh ta, xoay người anh lại, rồi kinh ngạc phát hiện, miệng anh ta đầy những viên đá!  
 
Vệ Chương nhìn tôi với ánh mắt đờ đẫn, thậm chí còn định nhét tiếp viên đá vừa nhặt lên vào miệng!  
 
“Anh điên rồi à? Nhổ ra ngay!”  
 
Tôi vội vàng giữ chặt Vệ Chương, ép anh ta nhổ ra, nuốt phải những thứ này thì có khi mất nửa cái mạng chứ chẳng chơi.  
 
Nhưng Vệ Chương nghiến chặt răng, nhất quyết không chịu nhả. 
 
Tôi liền túm lấy cằm anh ta, cưỡng ép anh ta mở miệng, cố móc hết đống đá ra ngoài.  
 
Vệ Chương giãy giụa dữ dội, liên tục đẩy tôi ra, miệng lầm bầm những câu khó hiểu.  
 
Mơ hồ, tôi chỉ nghe thấy một chữ: “Ngọc…”
 
Tôi moi ra được gần nửa số đá trong miệng anh ta, khóe miệng anh bị cào rách, máu dính đầy tay tôi, thế mà anh ta vẫn tiếp tục bò trên mặt đất, tìm kiếm những viên đá khác.  
 
Thừa cơ hội, tôi rút cây roi đánh hồn quấn bên hông. Không khí bỗng vang lên một tiếng “ong” đầy kỳ dị.  
 
Chát!  
 
Tôi quất một roi lên lưng Vệ Chương. Cả người anh ta run bần bật, rồi phịch một tiếng, quỳ rạp xuống đất.  
 
“Vệ Chương!”  
 
Tôi gọi anh ta một tiếng, Vệ Chương bỗng dưng bật khóc nức nở, sau đó bắt đầu nôn thốc nôn tháo.  
 
Tôi vội vỗ lưng giúp anh ta, hỗ trợ nôn hết đống đá ra ngoài. Miệng Vệ Chương toàn là máu, nhưng may mắn thay, anh ta chưa nuốt viên nào.  
 
Tôi ngồi cùng Vệ Chương nghỉ ngơi hơn nửa tiếng, cuối cùng anh ta cũng lấy lại được chút sức lực.  
 
Tôi bảo anh ta súc miệng bằng nước sạch, rồi hỏi xem còn đi tiếp lên núi được không.  
 
Anh ta gật đầu, ánh mắt đỏ hoe, trầm giọng nói: “Đã đến tận đây rồi, dù có mất mạng, tôi cũng phải ch3t một cách rõ ràng!”  
 
Tôi dìu Vệ Chương lên đến đỉnh núi Đông Lăng Phong.  
 
Khoảnh khắc đặt chân lên đỉnh, màn sương dày đặc xung quanh dần tan biến.  
 
Chợt, tôi lờ mờ nhìn thấy vô số tảng đá lớn nằm rải rác khắp nơi.  
 
Nhưng khi sương mù tan hẳn, trước mắt chúng tôi lại chẳng có bất kỳ tảng đá nguyên vẹn nào.  
 
Đỉnh núi Đông Lăng Phong gần như bằng phẳng, trên mặt đất rải đầy đá vụn, ngoài một rừng cây thưa thớt, có thể nhìn thấy tận cuối con đường chỉ bằng một cái liếc mắt.  
 
Vệ Chương có vẻ tuyệt vọng: “Tôi đã đến đây rất nhiều lần rồi, thật sự chẳng có gì cả.”  
 
Tôi ngồi xuống, quan sát đống đá vụn trên mặt đất, đột nhiên cảm thấy có gì đó quen thuộc.  
 
Tôi có một người bạn mở xưởng khai thác đá, từng theo anh ta xem cảnh tượng núi bị nổ mìn. Những mảnh đá vỡ văng ra khi đó trông rất giống đống đá vụn trên đỉnh Đông Lăng Phong này.  
 
“Ngọn núi này từng bị đánh sập sao?” Tôi hỏi.  
 
Vệ Chương suy nghĩ một chút, anh ta là người bản địa, hiểu rõ nơi này hơn tôi.  
 
“Tôi từng nghe người già trong vùng kể lại, ngọn núi này từng bị phong tỏa một thời gian, chuyện xảy ra từ mấy chục năm trước rồi. Lúc đó, dân làng xung quanh đêm nào cũng nghe thấy tiếng ‘bùm bùm’. Đến một ngày nọ, khi trời sáng, mọi người bỗng phát hiện đỉnh núi Đông Lăng Phong đã bị san phẳng một đoạn lớn.”  
 
Nếu chuyện này là thật, vậy chứng tỏ trước đây trên đỉnh Đông Lăng Phong từng có rất nhiều tảng đá lớn.  
 
Nhưng sau vụ nổ, viên đá mà Vệ Chương thấy trong giấc mơ đã bị văng đi đâu?  
 
Tôi nhìn khắp xung quanh.  
 
Ba mặt của Đông Lăng Phong đều có đường mòn để leo lên, chỉ có hướng Tây Bắc là một vách núi đứt gãy, vô cùng hiểm trở.  
 
Tôi tìm một cái cây khá chắc chắn, buộc dây an toàn vào rồi tiến về phía vách đá.  
 
Địa hình bên này còn cao hơn nữa, dưới chân đã là vách núi cheo leo, rất khó tìm điểm đặt chân.  
 
Vệ Chương không thể leo qua được, chỉ có thể lo lắng hét lên: “Anh cẩn thận đấy, Long ca!”   
 
Từng bước, tôi tiến đến mép vách đá, nơi này đã là vị trí cao nhất của Đông Lăng Phong.  
 
Gió núi từng cơn thổi qua, lạnh buốt sống lưng.  
 
Tôi cúi xuống, nhìn xuống bên dưới vách đá.  
 
Quả nhiên, cách đây khoảng hơn hai mét, có một bệ đá bằng phẳng.
 
Nền tảng lõm vào trong, từ trên xuống hay từ dưới nhìn lên đều rất khó thấy.  
 
Nơi dựa vào vách núi vậy mà lại có rất nhiều giàn giáo, nhưng tất cả đều đã rỉ sét, lung lay sắp đổ.  
 
Tôi quay lại chỗ cũ, nói với Vệ Chương rằng bên dưới có thứ gì đó, tôi phải mang dụng cụ xuống kiểm tra.  
 
Vệ Chương không yên tâm, cuối cùng kiên quyết trèo lên vách đá cùng tôi. Anh ta không thể xuống, nhưng ít nhất có thể giúp tôi trông chừng.  
 
Tôi đóng một cái đinh vào vách đá, buộc chặt dây an toàn, sau đó men theo vách núi trèo xuống.  
 
Khoảng cách từ nền tảng đến chỗ tôi đứng không xa lắm, tôi nghĩ chỉ cần vài bước là tới nơi.  
 
Nhưng tôi không ngờ rằng, ngay khi tôi leo được đến giữa đường, sợi dây an toàn phía trên đột nhiên lỏng ra!  
 
Nền tảng bên dưới vốn đã lõm vào trong, diện tích lại không rộng. Nếu tôi rơi xuống, căn bản là không thể đáp xuống nền mà sẽ rơi thẳng xuống vực, tan xương nát thịt.  
 
Đúng vào khoảnh khắc sợi dây an toàn lỏng ra, Vệ Chương nhìn thấy ngay lập tức.  
 
Anh ta lập tức lao đến, nhờ có cái bụng bia nên cả người bị kéo ngang ra đến mép vách đá, rồi bị một khe đá kẹp chặt lấy bụng.  
 
Tận dụng khoảnh khắc bị giữ lại, tôi vươn tay nắm chặt lấy giàn giáo trên vách đá.  
 
Tôi không quan tâm nó có chắc chắn hay không, cứ thế bám chặt leo lên.  
 
Tốc độ rơi của tôi dừng lại, suýt chút nữa kéo cả Vệ Chương xuống cùng.  
 
Trong thời khắc quan trọng, anh ta cũng mặc kệ sợ hãi và đau đớn, dùng cả tay lẫn chân bò lên, cố định lại dây an toàn cho tôi.  
 
Tôi lợi dụng những giàn giáo lung lay, cuối cùng đáp xuống nền tảng.  
 
Phía bên trong nền tảng, ngay sát vách núi là một cửa động tối đen như mực.  
 
Xung quanh cửa động đầy những vết đục đẽo, rõ ràng đây là một hang động nhân tạo.  
 
Bên phải cửa động còn có vài chữ phồn thể đã mờ nhạt “Mỏ ngọc Đông Lăng Phong”. 
 
Trong núi này vậy mà lại có một mỏ ngọc? Trước giờ tôi chưa từng nghe nói qua.  
 
“Long ca, anh không sao chứ?” Vệ Chương ở trên đỉnh vách đá, vẫn còn kinh hãi, hét xuống.  
 
“Tôi không sao, dưới này có một mỏ quặng, tôi vào xem thử!”  
 
“Anh cẩn thận đấy…”  
 
“Tôi biết rồi!”  
 
Tôi đeo ba lô dụng cụ lên, một tay cầm roi đánh hồn, một tay cầm đèn pin, bước vào trong động.  
 
Lòng bàn tay tôi bỏng rát, chân cũng bị va đập mạnh một cú.
Truyện được đăng tải duy nhất tại Sime Ngôn Tình: https://simengontinh.com/roi-danh-hon-phan-1-phan-14/chuong-7
  
 
Rõ ràng tôi đã buộc dây an toàn rất chắc chắn, tại sao lại đột nhiên lỏng ra?  
 
Lửa giận bùng lên trong lòng, hôm nay mặc kệ trong động này có thứ gì! Dù là đá, là ngọc, hay thậm chí là tượng Phật, ông đây cũng đập nát hết!  
 
Đường hầm được đào khá rộng nhưng không quá sâu, đi một đoạn nữa thì bị chặn lại.  
 
Tôi chưa đi được bao xa, liền nhìn thấy ngay chính giữa hang động có một tảng đá lớn.  
 
Đây có lẽ là tảng đá duy nhất còn nguyên vẹn ở Đông Lăng Phong.  
 
Nó trên hẹp dưới rộng, trên còn quấn một sợi dây đỏ đã mục nát.  
 
Nhìn dáng vẻ này, đây chắc chắn là tảng đá mà Vệ Chương đã mơ thấy.  
 
Loại đá này thường được khai thác từ mỏ, dùng để “trấn mỏ”.  
 
Có lẽ vì bị giấu ở đây, nó mới tránh được số phận bị phá hủy.  
 
Tôi đặt đèn pin lên giá, rồi lấy búa, đục và dụng cụ tách đá ra khỏi túi đồ.  
 
Khi tôi tiến lại gần tảng đá, bỗng phát hiện trong góc phía sau nó có một chiếc quan tài đá hoàn chỉnh.  
 
Tôi không thể nhận ra đó là hình thành tự nhiên hay do con người tạo ra.  
 
Bề mặt quan tài nhẵn nhụi, không có hoa văn gì.  
 
Tôi không định quan tâm đến nó, quyết tâm đập vỡ tảng đá trước.  
 
Tôi đi vòng quanh tảng đá một vòng, tìm một vị trí thích hợp để ra tay.  
 
Sau đó, tôi đặt đục vào đúng điểm cần tác động, vung búa nện xuống thật mạnh!  
 
Cả mỏ quặng lập tức vang lên một tiếng “RẦM”, bụi đất bay mịt mù.  
 
Tôi mặc kệ, liên tục giáng thêm vài nhát búa, đục cắm sâu vào đá, những vết nứt nhỏ bắt đầu lan rộng.  
 
Ngay lúc đó, trong khóe mắt tôi, tôi thấy chiếc quan tài đá trong góc… hình như đang mở ra!
 
Dưới lớp bụi mờ, một cái bóng xám xịt ngồi dậy, thân hình gầy guộc tựa như một lão già khô đét.  
 
Hắn chậm rãi quay đầu về phía tôi, rồi há to miệng. Trong cái khoang miệng tối om ấy, một khối ngọc bích xanh biếc lóe lên lạnh lẽo.  
 
“Mẹ nó chứ, chờ ông rảnh tay rồi thì ông đập ch3t mày!”  
 
Tay tôi không ngừng lại, vung búa nện mạnh vài nhát, đẩy cái đục sâu vào tảng đá, rồi rút ra chuẩn bị đặt kẹp phá đá.  
 
Bỗng nhiên, một luồng áp lực đè lên lưng tôi.  
 
Có thứ gì đó vừa nhảy lên người tôi! Một hơi lạnh lẽo phả qua sau gáy.  
 
Khóe mắt tôi thoáng nhìn vào trong quan tài đá, lão già kia đã biến mất.  
 
Từng sợi lông tơ trên người tôi dựng đứng! Tôi vứt búa xuống, rút roi đánh hồn vung mạnh ra phía sau.  
 
Nhưng thứ đó di chuyển quá quỷ dị, tôi không đánh trúng được.  
 
Một mùi hôi thối nồng nặc xộc thẳng vào mũi. Tôi cảm thấy lưỡi mình như sưng phồng lên, cứ như thể có thứ gì đó mắc kẹt trong miệng!  
 
Tôi lập tức nhận ra mình không còn nhiều thời gian.  
 
Không chần chừ, tôi nhặt kẹp phá đá dưới đất, nhét vào khe nứt vừa đục ra.  
 
Áp lực trên lưng tôi càng lúc càng đè nặng.  
 
Trong khoảnh khắc ấy, tôi thậm chí nghe được âm thanh xương cốt mình kêu răng rắc vì bị ép chặt.  
 
“Đ* mẹ mày—!”  
 
Tôi nhấc cây búa lớn bên cạnh, dồn hết sức vung mạnh xuống kẹp phá đá!  
 
Lượng adrenaline bùng nổ khiến tôi nghiến răng cắn mạnh vào đầu lưỡi, khoang miệng lập tức tràn ngập vị máu tanh nồng.  
 
Búa lớn mang theo gió rít, nhờ vào sức mạnh và quán tính, nện kẹp phá đá sâu thêm nửa phân.  
 
Những vết nứt khổng lồ lập tức lan rộng ra.  
 
Áp lực trên lưng tôi như ngọn núi nhỏ đè xuống, hơi lạnh buốt xuyên qua da thịt, cắm thẳng vào tận xương.  
 
Tôi phun ra một ngụm máu tươi, văng thẳng lên tảng đá.  
 
Không biết có phải do ảo giác hay không, nhưng thân thể tôi bỗng chốc nhẹ bẫng đi.  
 
Tôi lập tức nâng búa, giáng thêm một nhát mạnh. Cả vách núi như run lên!  
 
Không dám dừng lại, tôi liên tục vung búa, từng nhát từng nhát nện xuống.  
 
Cuối cùng, với một tiếng “rắc” giòn tan, tảng đá nứt toác, ầm ầm sụp đổ, vỡ thành từng mảnh!  
 
Tôi ngã ngồi xuống đất, cổ họng ngưa ngứa, lập tức phun ra một búng máu đen tanh tưởi.  
 
Áp lực trên lưng hoàn toàn biến mất.  
 
Tôi nắm chặt roi đánh hồn, chửi rủa mấy câu rồi lảo đảo đi về phía góc tối nơi đặt quan tài đá.  
 
Nhưng khi lại gần, tôi mới nhận ra đó nào phải quan tài gì chứ?  
 
Chỉ là một cái rãnh đá hình chữ nhật, không có nắp đậy. Giống như một máng đá từng dùng để chứa gì đó trong mỏ này.  
 
Không hiểu sao ban nãy tôi lại nhìn nhầm nó thành quan tài.  
 
Lúc ấy, tôi nghe thấy tiếng Vệ Chương gọi mình từ bên ngoài. Có lẽ tôi đã ở trong quá lâu, anh ta sợ tôi gặp chuyện.  
 
Nghe giọng điệu anh ta vẫn vội vã và lo lắng, nhưng không còn yếu ớt như trước nữa. Sau đó, tôi đào được một cái hộp sắt trong lớp đất đỏ mềm bên cạnh tảng đá.  
 
Tôi mang nó theo, trèo lên vách đá, rồi cùng Vệ Chương mở ra.  
 
Bên trong là một tờ giấy vàng, chi chít chữ viết kể lại từng việc thiện Vệ Chương đã làm suốt đời, năm nào tháng nào giúp ai, làm được việc gì tốt.  
 
Ngoài ra, còn một túi nhựa trong suốt được niêm kín, bên trong chứa đầy chất lỏng đặc sệt màu đỏ thẫm.  
 
Lật đi lật lại xem kỹ, chúng tôi phát hiện có một khối ngọc bích được ngâm trong đó.  
 
Trên đường lái xe về thành phố, Vệ Chương nói anh ta không còn đau đớn như trước, chỉ thấy mệt mỏi.  
 
Anh ta bảo sẽ tìm người hỏi về viên ngọc này rồi báo lại tôi sau. Còn về tờ giấy vàng kia, anh ta cũng đoán được ai là người đã viết.  
 
Dù sao thì, người hiểu rõ toàn bộ cuộc đời anh ta cũng chẳng có mấy ai.  
 
Trên đường về, chúng tôi đi ngang qua một khu chuyên làm đồ tang như quan tài, giấy vàng mã.  
 
Giờ đây, hầu hết các xưởng nhỏ đều đã đóng cửa, trên những bức tường cũ kỹ ven đường vẫn còn sót lại vài câu quảng cáo năm xưa.  
 
Tôi tình cờ nhìn thấy một dòng chữ: “Kiếp này tích đức ngậm ngọc bích, kiếp sau hưởng phúc vinh hoa phú quý.”  
 
Chợt, tôi dường như đã hiểu ra vì sao dưới chân Đông Lăng Phong lại tập trung nhiều kẻ làm ăn với cõi âm đến thế.  
 
Chắc chắn không thể không liên quan đến mỏ ngọc ngày xưa.  
 
Chỉ là, muốn ngậm ngọc thì dễ, nhưng tích đức… đâu phải ai cũng làm được?  
 
Vụ của Vệ Chương lần này, tôi nhận được tám vạn tiền thù lao.  
 
Ngoài trả nợ cho bản thân, tôi còn giúp Khổng Nghi và sư mẫu.  
 
May mà gần đây, chủ nợ của Khổng Lượng chưa tìm đến, không biết hắn đã tự trả hết chưa.  
 
Bị thương thế này, tôi cũng không dám về nhà ngay. Lũ nhỏ vẫn còn bé, tôi sợ làm chúng hoảng sợ, nên tạm ở nhờ nhà bạn vài ngày dưỡng thương.  
 
Rất nhanh, lễ “tam thất” của sư phụ sắp đến.  
 
Khổng Lượng lần này đúng là biết giữ lời, vẫn bộ dạng cà lơ phất phơ chạy đến tìm tôi.  
 
Thấy tôi vẫn lái cái xe tải cũ, hắn cười khẩy đầy khinh thường: “Cha tôi lúc nào cũng khen anh, vậy mà giờ anh lại thảm hại thế này à?”  
 
Tôi mặc kệ hắn, sư mẫu và mọi người từ sáng sớm đã chuẩn bị sẵn cờ triệu hồn, tiền giấy, thỏi vàng giấy và bài vị của sư phụ tôi.  
 
Tôi tìm một chỗ thích hợp trong xe để đặt đồ, sư mẫu còn nấu hẳn năm hộp lớn bánh sủi cảo cho chúng tôi. Giống như hồi trước tôi cùng sư phụ rong ruổi trên đường, vì tôi ăn khỏe. Một lần sư mẫu có thể nấu cả trăm cái bánh, nhét đầy chặt hết các hộp cơm.  
 
“Trường Đống, các con đi đường phải cẩn thận.”  
 
Sư mẫu nắm chặt tay tôi, dặn dò: “Nếu không làm được thì thôi, an toàn là quan trọng nhất. Lão Khổng sẽ không trách các con đâu, ông ấy sợ nhất là các con gặp chuyện.”  
 
“Con biết rồi, sư mẫu cứ yên tâm.”  
 
Sau khi trấn an sư mẫu và Khổng Nghi, tôi cùng Khổng Lượng lên đường.  
 
Lần này, con đường mà sư phụ tôi cần “xung sát” nằm rất xa về phía nam, giữa những ngọn núi. Đó là khu vực liên kết với những ngôi làng vô cùng khép kín và nghèo khó. Vì đường sá không thuận lợi, đặc sản địa phương khó mà bán ra ngoài. Cũng vì giao tiếp với thế giới bên ngoài ít ỏi, nên con đường đó có đủ thứ lời đồn kỳ quái.  
 
Chúng tôi lên đường trước hai ngày, dọc đường dừng nghỉ vài lần.  
 
Khổng Lượng từ nhỏ đã có sức khỏe không tốt, từng bị bỏ lại làm trẻ em lưu trú một thời gian. Sư phụ và sư mẫu luôn cảm thấy có lỗi với hắn, nuông chiều mà tạo cho hắn đủ thói hư tật xấu.  
 
Việc gọi hồn cho sư phụ phải tiến hành vào đêm đốt ba bảy (ngày thứ 21 sau khi mất). Chúng tôi nhất định phải kịp đến đoạn đường xảy ra chuyện.  
 
Ban ngày, chúng tôi khó khăn lắm mới đến được một huyện nhỏ ở điểm xuất phát. Khổng Lượng lại la ó đòi vào quán ăn.  
 
Ăn xong, hắn đi vệ sinh, tôi đứng ngoài chờ.  
 
Nhưng đợi đến hơn mười phút vẫn chưa thấy hắn ra, tôi lo hắn bỏ trốn nên quyết định đi tìm.  
 
Vùng này tuy nghèo nhưng cây cối lại rất tươi tốt, trong vườn rau dựng nhiều giàn, dây leo chằng chịt mọc khắp nơi.  
 
Tôi đi đến gần nhà vệ sinh, một cây long não to lớn che mất hầu hết ánh sáng, khiến xung quanh trở nên tối hẳn.  
 
Tôi gõ cửa gỗ nhà vệ sinh: “Khổng Lượng? Còn chưa xong à?”  
 
Bên trong không có động tĩnh gì.  
 
Tôi đẩy nhẹ cửa, phát hiện nó bị chốt từ bên trong. Cửa này rất sơ sài, khe hở lớn, tôi ghé mắt nhìn vào nhưng chỉ thấy tối om, không có ai cả.  
 
“Khổng Lượng! Cậu còn trong đó không? Trả lời đi!”  
 
Tôi cao giọng, nhưng lạ thay, giữa ban trưa mà quán ăn lại không có lấy một người, yên ắng đến kỳ lạ.  
 
Không có ai trả lời, tôi lấy điện thoại gọi cho hắn.  
 
Chuông reo lên, âm thanh phát ra từ trong nhà vệ sinh.  
 
Không kịp suy nghĩ nhiều, tôi lùi ra sau hai bước, giơ chân đạp tung cửa.  
 
Cùng lúc đó, một bóng trắng từ bên trong lao vọt ra!  
 
Tôi né sang một bên, chỉ nghe thấy tiếng Khổng Lượng hét thất thanh: “Aaa! Có ma! Có ma!!!”  
 
Hắn còn chưa kéo quần lên đàng hoàng, lăn lộn trên mặt đất mà vẫn không bò dậy nổi.  
 
Tôi đưa tay túm hắn lên, rồi quay người nhìn vào bên trong.  
 
Nhà vệ sinh này là loại hố xí khô, chỉ có một ngăn. Ngoài cửa có đặt một cái thùng nước và chậu rửa, có lẽ dùng để rửa tay.  
 
Chỉ là ánh sáng quá mờ, trên cao có một ô cửa nhỏ nhưng hầu như không lọt được ánh sáng vào.  
 
“Vừa nãy… ngay đó! Có người đứng!”  
 
Khổng Lượng hoảng hốt chỉ vào chỗ trước cái thùng nước, đối diện cửa ngăn nhà vệ sinh.  
 
“Lúc đó tôi tưởng người ta cũng muốn dùng nhà vệ sinh nên bảo đợi bên ngoài. Nhưng hắn không chịu đi, tôi bực quá mắng hai câu. Rồi… rồi tự nhiên tôi không mở được cửa nữa!”  
 
“Làm gì có ai? Cậu đừng tự dọa mình.”  
 
Tôi không nói với hắn, cửa bên ngoài vừa rồi là do tôi dùng chân đạp mở. Ngoài hắn ra, bên trong không hề có ai cả.  
 
Khổng Lượng thấy tôi không đáp lời, lập tức tức giận đòi đi tìm chủ quán tính sổ.  
 
Nhưng khi chúng tôi ra khỏi vườn rau, bên ngoài lại chẳng có một bóng người.  
 
Quầy hàng phía sau vẫn bày rượu, ngăn kéo còn tiền mặt. Giữa trưa thế này, vậy mà quán ăn lại phủ đầy bụi mờ, vắng lặng không một âm thanh.  
 
Lúc đầu, Khổng Lượng còn lớn tiếng gọi vài câu, sau đó tiếng chửi mắng dần nghẹn lại trong cổ họng.  
 
“Đi thôi, đừng trì hoãn nữa!” Tôi kéo Khổng Lượng ra khỏi quán, quay lại xe.  
 
Chiếc xe lặng lẽ lăn bánh qua thị trấn nhỏ, trên đường gần như không có người.  
 
Chỉ thỉnh thoảng, có vài ông lão ngồi trước hiên nhà, ánh mắt dõi theo xe chúng tôi đi qua…  
 
Chỉ đến khi lên được đường lớn, Khổng Lượng mới như sống lại, lại bắt đầu nói nhiều.  
 
“Này, anh nói xem, vừa rồi tôi thực sự gặp ma à?”  
 
“Dù có gặp thì tôi cũng không sợ. Số mạng tôi vốn khác các người, thầy bói còn không dám coi cho tôi mà!”  
 
Khổng Lượng mặc kệ tôi có để ý hay không, cứ thế huyên thuyên về những trải nghiệm ly kỳ của hắn.  
 
“Tôi có thằng bạn làm nghề tang lễ, suốt ngày tiếp xúc với người ch3t. Tôi từng ở chỗ hắn mấy hôm, buổi tối đầy tiếng động lạ. Cái gì mà ma quỷ, hồn phách, đều không đáng sợ bằng con người. Thằng khác nhát đến mức suýt đái ra quần.” 
 
Chúng tôi lái xe qua một đường hầm, tầm nhìn đột nhiên thu hẹp, hai bên đều là núi, trước mắt chỉ còn một con đường thẳng.  
 
Khổng Lượng rút điện thoại ra chụp lia lịa, suốt ngày kêu cảnh đẹp, bắt tôi lái chậm lại.  
 
Khoảng ba giờ chiều, bầu trời bỗng dưng tối sầm.  
 
Khổng Lượng nhíu mày: “Mới giờ này thôi mà? Ở đây phải hơn sáu giờ mới bắt đầu tối cơ mà?”  
 
Đột nhiên, một tiếng phanh gấp chói tai vang lên từ phía sau.  
 
Hệt như có một chiếc xe mất kiểm soát đang lao về phía chúng tôi!  
 
Khổng Lượng hoảng hốt túm chặt tay vịn, ôm đầu lại.  
 
Nhưng chờ mãi, chẳng thấy bóng dáng chiếc xe nào cả.  
 
“Chuyện quái gì vậy?”  
 
Khổng Lượng quay trái quay phải, phát hiện con đường này chỉ có duy nhất xe chúng tôi.  
 
“Anh không nghe thấy gì à?” Hắn trừng mắt nhìn tôi.  
 
“Mặt đường bị nắng chiếu, nhựa đường giãn nở, tiếng gì mà chẳng có.” Tôi bình tĩnh nhìn về phía trước.  
 
Khổng Lượng bĩu môi, dựa lưng vào ghế. Chẳng bao lâu sau, chúng tôi quẹo qua một khúc cua, trước mắt hiện ra một đoạn lan can bị đâm vỡ.  
 
Trên mặt đường tối đen, còn lưu lại dấu vết phanh gấp rõ ràng.  
 
Khổng Lượng nuốt nước bọt đánh ực, quay sang nhìn tôi.  
 
Tôi chẳng nói gì, chỉ là một vụ tai nạn mà thôi.  
 
Những con đường quanh co, tầm nhìn hạn chế như thế này, tai nạn xảy ra là chuyện bình thường.  
 
Chúng tôi lại lái xe thêm một giờ nữa, trời hoàn toàn tối đen. Chẳng bao lâu sau, mưa lớn ào xuống.  
 
Hạt mưa rơi nặng như đá, gần như che khuất tầm nhìn của chúng tôi.  
 
Tôi lập tức giảm tốc độ, bật hết đèn trước sau. Nhưng cơn mưa như trời sập, cần gạt nước không kịp quét sạch, mà trước mặt toàn là khúc cua liên tiếp.  
 
Tôi phải giảm tốc xuống mức thấp nhất.  
 
Khổng Lượng cũng bắt đầu căng thẳng, không còn lắm mồm nữa, chỉ chăm chăm nhìn ra ngoài.  
 
Bỗng nhiên, hai bên đường xuất hiện một nhóm người đang chậm rãi bước đi.  
 
Có kẻ mặc áo mưa, có kẻ che ô.  
 
Giữa cơn mưa dày đặc, tôi không thể nhìn rõ mặt họ, cũng không biết họ đến từ đâu. 
 
Theo lý mà nói, con đường này ở giữa không có ngã rẽ, hai bên đều là núi.  
 
“Sao lại có nhiều người như vậy? Có phải phía trước xảy ra tai nạn xe không?”  
 
Giọng của Khổng Lượng rất nhỏ, tôi hiểu hắn, đây là dấu hiệu của sự sợ hãi. Lúc này, nếu không để hắn nói chuyện, hắn sẽ càng căng thẳng hơn.  
 
“Có thể, trời mưa to quá mà.”  
 
Tôi đáp lại, vẫn giữ tốc độ chậm. Ban đầu còn đỡ, những người xuất hiện chỉ đứng bên đường, chưa có ai lên cao tốc. Nhưng dần dần, có vài người đã vượt qua dải phân cách.  
 
Những người vượt qua dải phân cách không còn đi về phía chúng tôi nữa, mà quay lưng lại, bắt đầu bước đi cùng chiều với xe của chúng tôi.  
 
“Những người này đang làm gì vậy?”  
 
Khổng Lượng co người lại, thì thầm: “Có bệnh à! Xảy ra tai nạn thì gọi cảnh sát đi, bám theo bọn mình làm gì?”  
 
Chúng tôi tiếp tục lái xe một lúc nữa, mưa bắt đầu nhỏ dần. Những người đi theo chúng tôi bị bỏ lại phía sau một đoạn, đột nhiên phía trước có một chiếc xe bật đèn cảnh báo khẩn cấp.  
 
Khi chúng tôi đến gần, Khổng Lượng vươn cổ nhìn ra phía đó.  
 
Là một chiếc xe sedan màu đen đậu bên lề đường, có vẻ như người lái xe đang đứng phía sau xe vẫy tay về phía chúng tôi.  
 
“Người này không thấy đám người kỳ lạ phía sau sao? Chúng ta có nên dừng lại không?” Khổng Lượng quay sang hỏi tôi.  
 
“Cậu mở cửa kính xuống, hỏi xem anh ta muốn gì.” Tôi nói.  
 
“Chắc là muốn nhờ giúp đỡ thôi.”  
 
Khổng Lượng lẩm bẩm, nhưng vẫn mở cửa kính xe và hét lên: “Anh bạn, có cần giúp gì không?”  
 
Người lái xe đứng thẳng dậy, nói với Khổng Lượng một câu gì đó, nhưng không biết do giọng gã ta nhỏ hay do tiếng mưa lớn, chúng tôi hoàn toàn không nghe rõ.  
 
Khổng Lượng hỏi đi hỏi lại nhưng vẫn không hiểu gì.  
 
“Gã này làm sao thế nhỉ? Chỉ thấy miệng nhép nhép, không thể nói to hơn chút à?”  
 
Chiếc xe của chúng tôi cứ thế đi thẳng qua, người lái xe kia vẫn đứng yên tại chỗ, không có vẻ gì là đang gấp gáp chặn xe cầu cứu.  
 
Khổng Lượng cau mày đóng cửa kính xe lại. Khoảng nửa tiếng sau, mưa càng nhỏ hơn, phía trước lại xuất hiện một chiếc xe bật đèn cảnh báo.  
 
“Lại có chuyện gì nữa à?”  
 
Khổng Lượng bám vào cửa kính nhìn ra, nhưng khi chúng tôi đến gần, hắn lập tức run rẩy: “Anh… anh ơi… sao vẫn là người đó?”  
 
Tôi quay đầu nhìn ra ngoài, quả nhiên, vẫn là chiếc sedan màu đen đó, vẫn là người lái xe đó.  
 
Chỉ có một điều khác biệt, chiếc xe trông cũ nát hơn, cửa kính bị vỡ, đèn hậu cũng biến mất.  
 
Người lái xe vẫn đứng đó, vẫy tay về phía chúng tôi. Khổng Lượng không dám nhìn nữa, co rúm người xuống ghế.  
 
“Chạy đi! Chạy nhanh đi! Cái này không bình thường!”  
 
Tôi trực tiếp lái xe đi thẳng, lúc này đã gần 5 giờ chiều. Khổng Lượng mở điện thoại xem bản đồ, miệng lẩm bẩm liên tục.  
 
“Chẳng lẽ là ma đưa lối quỷ dẫn đường? Không đúng, chúng ta vẫn đang đi về phía trước mà! Chuyện quái quỷ gì đang xảy ra vậy?”  
 
“Bình tĩnh lại.”  
 
Tôi nói với cậu ta: “Đừng quên, chúng ta đang xung sát.”  
 
Khổng Lượng ngẩng đầu nhìn tôi một cái, bàn tay cầm điện thoại run lên thấy rõ.  
 
Đúng lúc đó, phía trước lại sáng lên ánh đèn cảnh báo khẩn cấp.  
 
Khổng Lượng lập tức che mặt lại, tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, quả nhiên, vẫn là chiếc xe đó, vẫn là người lái xe đó.  
 
Nhưng lần này, chiếc xe đã trở nên vô cùng tồi tàn, ngay cả nóc xe cũng bị lõm xuống.  
 
Cơ thể người lái xe rách nát, trên mặt bắt đầu chảy máu.  
 
“Nếu lần tới lại gặp nữa, cậu mở cửa kính hỏi anh ta xem rốt cuộc muốn gì.”  
 
“Anh điên rồi à?”  
 
Khổng Lượng thở dốc: “Thứ đó là cái quái gì anh còn không biết sao? Anh muốn hại ch3t tôi à?”  
 
Tôi liếc hắn một cái: “Nếu cậu không làm theo, tôi sẽ đá cậu xuống xe ngay bây giờ.”  
 
Khổng Lượng bị tôi chặn họng, nuốt nước bọt đầy bực bội. Chẳng bao lâu sau, ánh đèn cảnh báo lại xuất hiện. Tôi thúc giục Khổng Lượng mở cửa kính xe.  
 
Lần này, tôi giảm tốc độ chậm hơn nữa, những giọt mưa lạnh buốt bay vào trong xe, có lẽ sắp tạnh rồi.  
 
Khổng Lượng run bần bật, hắn ta không dám nhìn thẳng vào người lái xe kia. Tôi đẩy mạnh hắn ta một cái, hắn ta khàn giọng hét lên:  
 
“Anh… anh rốt cuộc muốn gì? Nói to lên xem nào!”  
 
Lần này, giọng nói của người lái xe truyền đến rất rõ ràng.  
 
Cổ họng gã có vẻ bị máu chặn lại, giọng nói có chút nghẹn ngào nhưng vẫn có thể nghe ra được…
 
Gã ta nói: “Đừng dừng xe khi trời mưa… Đừng để bọn họ lên xe…”  
 
Lúc này, chiếc xe hơi màu đen gần như chỉ còn lại khung xe, trên thân xe mọc đầy những dây leo kỳ dị.  
 
Người tài xế quần áo rách bươm, đầu móp gần hết một bên.  
 
Khổng Lượng há hốc miệng, quay đầu nhìn tôi: “Hắn… hắn nói không được cho ai lên xe? Ý hắn là sao?”  
 
Tôi từ từ nhấn ga.  
 
Trong gương chiếu hậu, những người đi hai bên đường cao tốc đã bắt kịp chúng tôi.  
 
Chín giờ tối, chúng tôi đến nơi xảy ra tai nạn của sư phụ.  
 
Lúc này, mưa vẫn chưa tạnh hẳn, những hạt mưa lất phất rơi xuống đường.  
 
Đoạn đường bị rào chắn lại trông vô cùng hoang tàn, ngoài rào chắn vẫn còn nhìn thấy một chiếc đèn xe bị vỡ.  
 
Khổng Lượng đã gắng gượng đến đây, nhưng giờ nhất quyết không chịu xuống xe.  
 
“Bọn quái nhân kia vẫn còn phía sau! Anh điên rồi sao? Anh muốn gi3t tôi à?”  
 
“Cậu sợ gì? Ba cậu đang ở đây!” Tôi quát lên với Khổng Lượng.  
 
“Ba tôi ở đây thì sao? Ông ấy chẳng phải cũng ch3t ở đây rồi sao?”  
 
Tôi giơ tay tát thẳng vào mặt Khổng Lượng: “Ba cậu vì ai mà đến đây? Cậu nghĩ ông ấy đến đây làm gì?”  
 
“Đúng! Là tôi hại ch3t ba tôi! Tôi là đồ vô dụng!”  
 
Khổng Lượng bị tôi tát đến sưng cả mặt: “Nhưng tôi cũng không xuống xe! Anh muốn đi thì tự đi đi! Các người giỏi lắm, đừng ép tôi nữa! Tôi không đi!”  
 
Thấy nói không có tác dụng, tôi dứt khoát xuống xe, mở cửa chỗ Khổng Lượng.  
 
“Anh làm gì vậy? Đừng ép tôi…”  
 
Khổng Lượng thấy tôi định kéo hắn, lập tức quẫy đạp như điên, muốn trốn ra ghế sau.  
 
Tôi giữ chặt chân hắn, túm lấy tay hắn, mặc cho hắn gào khóc thảm thiết, tôi vẫn cứng rắn lôi hắn xuống xe.
 
Mặc kệ tiếng gào thét như lợn bị chọc tiết, tôi vẫn cứng rắn lôi hắn ra ngoài.
 
“Không phải cậu vẫn luôn nghĩ ba mẹ nợ cậu sao? Không phải cậu vẫn luôn cho rằng mình tài giỏi lắm sao?”
 
Tôi ghì Khổng Lượng xuống mặt đường.
 
“Vậy hôm nay hãy tự mình trải nghiệm xem, xem ba cậu đã liều mạng vì cậu thế nào!”
 
“Tôi không làm! Buông tôi ra…”
 
Khổng Lượng giãy giụa điên cuồng, nhưng sức hắn quá yếu, bị tôi đè chặt đến mức không nhúc nhích nổi.
 
“Nếu cậu không làm, tôi sẽ bỏ cậu lại đây!”
 
Tôi túm cổ áo sau của Khổng Lượng, bắt hắn nghiêng đầu nhìn thẳng vào tôi.
 
“Cậu nghĩ tại sao tôi nhất định phải đưa cậu đến đây để gọi hồn? Tôi đã quyết định rồi! Hôm nay, cậu hoặc là cùng tôi đón sư phụ về, hoặc là ở lại đây với ông ấy!”
 
“Dù sao không có cậu, sư mẫu và Khổng Nghi sau này cũng dễ sống hơn.”
 
Khuôn mặt tôi khiến Khổng Lượng sợ hãi đến mức phát run. Hắn run rẩy gật đầu: “Tôi… tôi biết rồi, anh ơi, tôi không dám nữa, tôi nghe lời anh.”
 
Tôi đưa bài vị của sư phụ cho Khổng Lượng, để hắn ôm lấy.
 
Sau đó tôi dựng cờ phướn, đốt tiền vàng.
 
Tối chín giờ rưỡi, nghi thức gọi hồn bắt đầu.
 
“Ba…” Tôi giơ chân đá Khổng Lượng một cái.
 
“Gọi cả tên đầy đủ!”
 
Khổng Lượng bị tôi làm cho giật mình nhảy dựng lên, vội vàng quay đầu hét to: “Khổng Giáp! Sinh ngày 8 tháng 4 năm Giáp Thìn! Hôm nay gặp tai họa bất ngờ! Trưởng tử Khổng Lượng, đồ đệ Long Trường Đống xin gọi hồn phụ thân trở về!”
 
“Nhà ở hướng Đông Bắc, đèn trường minh chỉ lối, hoa sen trải đường…”  
 
Đọc xong câu gọi hồn, tôi vung cao lá cờ chiêu hồn, dẫn theo Khổng Lượng đi đi lại lại trên con đường ấy.  
 
Chúng tôi phải đi đủ chín trăm chín mươi chín bước, vừa đi vừa gọi.  
 
Khổng Lượng càng gọi, nước mắt càng rơi. Giọng hắn cũng dần nghẹn ngào không thể kìm nén, nức nở nói: “Ba, về đi… Ba, con đến đón ba đây… Ba, con sai rồi…”  
 
Tôi ngẩng đầu nhìn lên bầu trời đen kịt, cũng cất giọng gọi: “Sư phụ, về nhà thôi.”  
 
Cơn mưa bất chợt lớn hơn. Chúng tôi sắp đi đến bước cuối cùng.  
 
Cùng lúc đó, bầu không khí xung quanh cũng thay đổi. Tiếng xào xạc trong rừng núi dần biến mất.  
 
Trên sườn đồi ngoài đường cao tốc, lờ mờ xuất hiện những bóng đen không rõ hình dáng.  
 
Khổng Lượng bắt đầu run rẩy không kiểm soát, liên tục nhìn tôi.  
 
Tôi khẽ nói: “Tiếp tục đi, còn một trăm bước cuối cùng.”  
 
Gió lạnh trong núi thổi mạnh, làm lá cờ chiêu hồn trong tay tôi run bần bật.  
 
Tôi siết chặt cán cờ, kiên định bước về phía trước, kéo Khổng Lượng theo.  
 
Giọng hắn lúc cao lúc thấp, không che giấu nổi sự sợ hãi.  
 
Tôi đành giúp hắn gọi: “Khổng Giáp, hồn phách quy lai, nhà ở hướng Đông Bắc, đèn trường minh chỉ lối…”  
 
Ngay lúc này, những kẻ kỳ lạ vẫn bám theo chúng tôi lại một lần nữa đuổi tới.  
 
Khổng Lượng đột ngột khựng lại.  
 
Tôi lập tức nắm chặt cánh tay hắn ta, tiếp tục kéo đi về phía trước.  
 
Ba mươi bước cuối cùng. Hai mươi bước cuối cùng.  
 
Những bóng đen trên sườn núi cũng bắt đầu tụ lại, tiến dần về phía đường cao tốc.  
 
Từng cơn gió âm u ào tới, thổi cong cả cán cờ chiêu hồn trong tay tôi.  
 
Miệng Khổng Lượng đã không còn biết đang gọi cái gì nữa…
 
Hắn khi thì kêu lên: “Ba, con sai rồi”, khi thì: “Anh, em không dám nữa!”  
 
Cuối cùng, bước cuối cùng đã hoàn tất, những kẻ quái dị đó đã tiến vào phạm vi ánh đèn xe của chúng tôi. Đèn xe tôi vẫn bật liên tục, đột nhiên nhấp nháy liên hồi, rồi cuối cùng “bụp” một tiếng, tắt hẳn!  
 
Những kẻ vẫn đội ô, mặc áo mưa kia bỗng nhiên tăng tốc!  
 
Tôi đẩy mạnh Khổng Lượng một cái, hét lên: “Lên xe!” 
 
Sau đó, tôi rút roi đánh hồn từ thắt lưng ra, quất mạnh vào không khí ba nhát, tạo nên ba tiếng “chát chát chát”.  
 
Những kẻ quái dị trên đường lập tức biến mất.  
 
Nhưng tôi lại cảm nhận được một luồng khí lạnh thấu xương, như thể nó xuyên thẳng vào cơ thể tôi! 
 
Dù vậy, tiếng roi vang lên đã khiến những thứ bên ngoài đường cao tốc không dám tiếp cận.  
 
Tôi lập tức lao về phía xe tải, Khổng Lượng cũng tự mình trèo lên, suýt nữa không đóng nổi cửa xe, nhưng may là hắn không vứt bài vị của sư phụ tôi.  
 
Tôi khởi động xe, quay đầu lên đường, nhưng trước mắt bỗng tối sầm lại.  
 
Bên tai vang lên những tiếng gào thét thảm thiết, kèm theo tiếng “rầm rầm rầm” của thứ gì đó đang đập vào xe.  
 
Trong cơn mơ hồ, tôi chợt nhớ lại chiếc xe hơi màu đen trên đường khi nãy, thân xe đầy những vết lõm không phải do tai nạn, mà do có người đã đập nát nó.  
 
Trước đây, ở những vùng xa xôi hẻo lánh, luôn có những tên cướp đi thành nhóm, lợi dụng trời mưa lớn để chặn xe, cướp bóc. Sau đó, chúng chôn cả người lẫn xe trong núi, nhiều năm trôi qua cũng không ai phát hiện ra.  
 
“Anh! Anh!” Khổng Lượng gọi tôi bên tai.  
 
Tôi có thể nghe thấy, nhưng không thể nhìn thấy gì cả.  
 
Tôi gọi hắn, bảo hắn ta nắm lấy vô lăng, nhưng không nghe thấy bất kỳ hồi đáp nào.  
 
Tôi cố với tay tìm roi đánh hồn, rõ ràng nó ở ngay bên cạnh, nhưng lúc này tôi lại không thể chạm vào được.  
 
Đột nhiên, một luồng ánh sáng chói lóa chiếu thẳng vào mắt tôi.  
 
Trong khoảnh khắc, tầm nhìn của tôi trở lại. Tôi nhận ra xe của mình đang lao thẳng về phía vách núi bên đường cao tốc!  
 
Khổng Lượng hoàn toàn không nghe thấy tôi, hắn chỉ biết nắm chặt cửa xe, hoảng loạn hét lên.  
 
Tôi vội vàng bẻ ngoặt vô lăng, xe lách qua dải lan can và đổi hướng.  
 
Tôi nắm chặt roi đánh hồn, quất mạnh một nhát ra sau đầu.  
 
Lại một tiếng “chát” vang lên.  
 
Chiếc xe của tôi đã an toàn trở lại con đường.  
 
Trước khi rời đi, tôi xuống xe một lần nữa, nhặt lại chiếc đèn xe cũ kỹ mà sư phụ để lại, rơi bên ngoài lan can.  
 
Chùm ánh sáng vừa nãy chiếu vào mắt tôi dường như chính là phát ra từ nó.  
 
Sau khi sư phụ qua đời, chiếc xe tải mà ông đã gắn bó hơn mười năm, dù thế nào cũng không nỡ bán, cuối cùng cũng bị bỏ đi.  
 
Bây giờ, có lẽ thứ duy nhất còn sót lại, chỉ là chiếc đèn này.  
 
Khổng Lượng về nhà liền đổ bệnh, sốt cao đến ba mươi chín độ.  
 
Dù vậy, hắn vẫn cố gắng cùng chúng tôi lo hậu sự và chôn cất sư phụ.  
 
Tôi không biết trải nghiệm lần này có làm thay đổi hắn không. Nhưng tôi nghĩ, ít nhất, nó cũng sẽ để lại dấu ấn trong cuộc đời hắn.  
 
Sau khi chôn cất sư phụ, tôi cũng lái xe về nhà.  
 
Vài ngày sau, tôi nhận được cuộc gọi từ Vệ Chương.  
 
Vệ Chương nói với tôi, anh ta đã hoàn toàn khỏi bệnh, thậm chí không cần uống thuốc nữa.  
 
Anh ta còn tìm hiểu về ngọc Đông Lăng Phong.  
 
Anh nói, trước đây chất lượng ngọc của Đông Lăng Phong không tốt, có lẽ do đất đỏ, nên trong ngọc có vân máu. Nhưng không biết từ khi nào, một số thầy phong thủy đồn rằng loại “ngọc tẩm huyết” này rất thích hợp để làm ngọc ngậm miệng cho người ch3t, có thể tích đức, giúp đầu thai kiếp sau được giàu sang phú quý.  
 
Về sau, rất nhiều người bắt đầu tôn sùng ngọc Đông Lăng Phong.  
 
Nhiều người già luôn mong mỏi có được một miếng, thậm chí có người còn lén lút lên núi tìm kiếm, chỉ mong nhặt được một mảnh vụn cũng mãn nguyện.  
 
Nhưng cũng có những người nghĩ rằng, cả đời mình chưa từng làm việc thiện, có lẽ dù có ngọc ngậm miệng cũng chẳng được hưởng phúc kiếp sau.  
 
Thế là, “nuôi ngọc” trở thành một giao dịch.  
 
Tờ bùa vàng của Vệ Chương chính là bị người ta dùng để “nuôi ngọc”, chuyển công đức của anh ta vào ngọc, rồi đem nó cho người khác sử dụng.  
 
Vệ Chương cười nói: “Hồi đó Đông Lăng Phong toàn đá tảng lớn, khắp nơi là bùa vàng và dây đỏ, cấm bao nhiêu lần cũng không hết. Cho đến khi cả ngọn núi bị người ta cho nổ tung.”  
 
Sau khi nói chuyện với Vệ Chương về những chuyện này, anh ta mới kể tôi nghe chuyện của mình.  
 
Thì ra, chính một người bạn thân của anh ta đã bán thông tin về cuộc đời anh cho người khác, chỉ để lấy hai mươi nghìn tệ.  
 
Trong điện thoại, Vệ Chương thở dài thật sâu.  
 
Anh ta nói: “Long ca, lúc đó tôi thực sự rất thất vọng, tôi nghĩ, sau này sẽ không làm người tốt nữa. Nhưng sau đó tôi lại nghĩ, không làm việc thiện thì sẽ không bị hại sao?”  
 
“Có lẽ chính vì tôi đã từng làm điều tốt, nên tôi mới có thể mơ thấy tảng đá đó, mới có thể gặp được anh. Vậy nên, người tốt cuối cùng vẫn sẽ gặp lành, đúng không?”  
 
-Hết Phần 2-

Vậy là bạn đã theo dõi đến chương 7 của Roi Đánh Hồn: Phần 1 – Phần 14 – một trong những bộ truyện thuộc thể loại Hiện Đại, Kinh Dị, Linh Dị đang được yêu thích trên Sime Ngôn Tình. Truyện sẽ sớm có chương mới, đừng quên theo dõi Fanpage để nhận thông báo nhanh nhất. Trong lúc chờ đợi, hãy thử tìm hiểu thêm các bộ truyện hấp dẫn khác mà bạn có thể chưa từng đọc qua!

Sime Ngôn Tình

Sime Ngôn Tình

Sime Ngôn Tình là nơi tụi mình chia sẻ những bộ ngôn tình siêu sủng, siêu ngọt khiến tim tan chảy! Theo dõi liền kẻo lỡ truyện hot nha~ Nhớ vote 5 sao ủng hộ tụi mình với nhaa 💕

Bình luận

Sắp xếp theo